Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Những vẻ đẹp chết người của rắn Việt Nam


Những vẻ đẹp chết người của rắn Việt Nam



Hơn 200 loài rắn tìm thấy và công bố, với 22 loài rắn biển và 184 loài rắn sống trên đất liền cho thấy sự đa dạng về số lượng và chủng loại rắn phân bố khắp nơi ở Việt Nam.
Rắn được xem là loài động vật độc ác và chết chóc đối với con người, nhưng trong y học, rắn quấn quanh cây gậy tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ. Đối với các nhà nghiên cứu bò sát, loài rắn không chỉ hấp dẫn bởi vẻ đẹp bên ngoài mà còn là đối tượng nghiên cứu để phân loại, tìm kiếm, phát hiện ra những loài mới cho khoa học. Chúng còn là mắt xích sinh học cực kỳ quan trọng, đóng vai trò giúp cân bằng hệ sinh thái.
Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus. Loài này được xem như một trong những loài rắn có sắc màu rực rỡ nhất ở Việt Nam và cũng là loài sống ở những nơi gần với nóc nhà của chúng ta. Chúng thường kiếm ăn ở bìa rừng dọc theo các con suối thuộc vùng núi cao. Chúng thích hoạt động vào sáng sớm hoặc hoàng hôn. Thức ăn chủ yếu của chúng là các loài lưỡng cư và thú gặm nhấm nhỏ. Rắn sọc đốm đỏ đẻ khoảng 2 - 7 trứng.
Chính vì vẻ đẹp rực rỡ của chúng và hoàn toàn vô hại với con người đã khiến chúng bị săn đổi ráo riết để buôn bán và nuôi làm cảnh. Hiện loài này đã đưa vào sách đỏ Việt Nam.
Rắn lục miền nam Viridovipera vogeli - Kẻ săn đêm siêu phàm và khôn ngoan nhất trong các loài rắn. Giữa bóng đêm mịt mùng của các cánh rừng mưa nhiệt đới loài rắn lục này dùng khả năng cảm nhiệt trong đêm tối để bắt các con mồi. Nó tìm kiếm một gốc cây nhỏ cuộn tròn vào các cành cây nằm gần sát mặt đất và kiên nhẫn chờ đợi con mồi đi ngang qua. Chỉ với một cú đớp những chiếc răng sắc nhọn của nó sẽ khiến con mồi không có cơ hội thoát thân. Đây là loài rắn độc và rất nguy hiểm không chỉ đối với con người mà ngay cả một con nai rừng ngơ ngác.
Rắn lục núi Ovophis monticola. Đây là loài cực độc đối với các loài động vật máu nóng, nhưng kẻ mù màu này lại tỏ ra hết sức khờ khạo dưới ánh sáng ban ngày nên chúng ta rất khó có cơ hội gặp chúng. Lẩn trốn ban ngày và kiếm ăn ban đêm nơi các vũng nước nhỏ đọng trong các khu rừng thường xanh là phương cách tồn tại hữu hiệu nhất mà tổ tiên của chúng đã truyền lại. Chúng có nhiều màu sắc thay đổi khác nhau tùy từng sinh cảnh sống ở các khu vực có độ cao trên 800 m. Nhưng những vệt vảy đen trên đỉnh đầu của nó rất khó để nhầm lẫn với bất cứ loài nào thuộc giống Oviphis ở Việt Nam.
Rắn hổ mây gờ Pareas carinatus. Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống, cơ thể con người bắt đầu cảm nhận được cái lạnh của màn sương đêm buông xuống thì cũng là lúc loài này bò ra khỏi hang nơi nó lẩn trốn ban ngày, để đi kiếm ăn. Những loài ếch cây Rhacophorus và các loài nhái nhỏ sẽ là miếng mồi ngon lành của nó. Loài này rất ít gặp ban ngày nhưng rất dễ nhận diện loài rắn không độc này trong đêm với lớp vảy màu nâu nhạt, lớp vảy nằm sát phần bụng có màu nâu đậm, viền mắt ngoài màu đỏ rực khi ánh đèn phản chiếu trong đêm tối. Rắn hổ mây gờ là loài rắn có kích thước nhỏ, nhút nhát, phân bố rộng nhưng số lượng cá thể của loài này không còn nhiều trong tự nhiên.
Rắn rào ngọc bích Boiga jaspidea. Danh hiệu Nữ hoàng sắc đẹp của các loài rắn chắc chắn sẽ dành cho loài này vì những màu sắc, hoa văn trên cơ thể của nó được tạo hoá trang điểm hài hoà. Trong bóng đêm, sự phản chiếu của các lớp vẩy màu bởi ảnh đèn flash càng làm nó nổi bật. Mặc dù là loài rắn không độc nhưng nó có khả năng bắt chước một số loài rắn độc khi bị đe doạ bằng cách phình to phần đầu ra để hù doạ kẻ thù và phát ra những âm thanh đe doạ để tìm cách lẩn trốn.
Rắn cườm Chrysopelea ornata. Loài rắn nhỏ có chiều dài khoảng 130 cm này đầu màu xanh lục có vệt màu đen. Loài rắn nhỏ bé và nhút nhát này thường dùng chiêu thức lẩn trốn ‘tẩu vi thượng sách’ khi gặp kẻ thù đây có lẽ phương pháp hữu hiệu nhất của chúng vì “biết mình sức yếu”. Chúng là loài hoạt động kiếm ăn ban ngày, thức ăn chính được biết đến chỉ là các những loài thằn lằn nhỏ lẩn trốn các thảm mục thực vật. Đôi khi chúng mò vào tận các ngôi nhà hoang hay những ngôi nhà nằm sát bìa rừng để bắt những con thạch sùng nhà Hemidactylus. Thỉnh thoảng con người có cơ hội nhìn thấy nó gồng mình thị uy một cách mạnh mẽ khi gặp kẻ yếu hơn mình.
Rắn lục mắt đỏ Trimeresurus stejneger. Chậm chạp, lặng lẽ trong bóng đêm mịt mùng các khu rừng thường xanh nhưng chỉ một cú đớp của loài rắn độc này có thể giết chết bất cứ loài động vật nào lớn hơn nó gấp nhiều lần. Nọc độc của nó sẽ tấn công các tế bào trong cơ thể gây phù nề, hoại tử nếu không kịp chữa trị và nếu như bạn không hiểu về tập tính, cách tấn công của nó thì đừng có dại dột mà để ống kính chụp hình cách nó 2 m trừ khi bạn không muốn nhìn thấy mặt trời vào ngày hôm sau.
Rắn hổ đất nâu Psammodynastes pulverulentus. Đầu hình tam giác rõ rệt và do đó loài hổ đất nâu này thường bị nhầm lẫn với các loài rắn có nọc độc khác, tuy nhiên nó là loài hoàn toàn vô hại. Thức ăn chủ yếu của chúng là thằn lằn và ếch; chúng săn mồi cả ngày lẫn đêm. Chúng đẻ mỗi lứa đẻ từ 5 – 10 con. Loài này phân bố trên khắp vùng Đông Nam châu Á sang Nepal, Đài Loan và Philippines.
Rắn hoa cỏ nhỏ Rhabdophis subminiatus. Rực rỡ sắc màu ở phần đầu và cổ không chỉ điểm thêm cho vẻ đẹp gợi tình của các "chàng" rắn trong mùa giao phối để thu hút bạn tình, mà còn giúp nó đe dọa kẻ thù vì màu sắc "chết chóc" này. Có thể chúng vô hại với con người và một số loài động vật máu nóng khác nhưng chúng là ác mộng với các loài máu lạnh lưỡng cư trong các khu rừng. Loài này thường phân bố ở độ cao thấp và bóng đêm luôn đồng hành với nó trong việc tìm kiếm thức ăn và tìm bạn tình trong mùa giao phối. Mới đây các nhà khoa học phát hiện ra loài này có độc tích lũy trong cơ thể khi chúng ăn loài có độc.
>>
Phùng Mỹ Trung

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

6 hội chứng quái đản khó tin của con người


 

 

Mặc dù không gây chết người nhưng nó khiến người bệnh "phát điên"...


1. Hội chứng co rút bộ phận sinh dục (GRS)
Tên khoa học của chứng bệnh này là Genital Retraction Syndrome (viết tắt là GRS) - hội chứng co rút bộ phận sinh dục.
Người bị triệu chứng kỳ quặc này thường mất tinh thần vì sợ hãi, khi cơ quan sinh dục bên ngoài (dương vật hoặc núm vú nữ) bị co hoặc rút lại vào trong cơ thể đến mức hoàn toàn bị biến mất. GRS được coi là một trong những rối loạn tâm thần. 
Nguyên nhân của bệnh được cho rằng có sự xung đột tâm lý, lo lắng hay sợ mất năng lực tình dục. Nó là nỗi ám ảnh lớn trong nhiều nền văn hóa, người bị bệnh thường không được chữa trị đầy đủ vì tâm lý e ngại. Ở một số khu vực kém văn minh, nguyên nhân của căn bệnh này thường được quy cho tà thuật, các phù thủy, pháp sư gây ra.
2. Hội chứng xác sống
Hội chứng này được phát hiện bởi nhà thần kinh học người Pháp - Jules Cotard (1840 - 1889) vào năm 1880. Tên khoa học của chứng bệnh này là Walking Corpse Syndrome (viết tắt là WCS) - hội chứng xác sống.  Đây là chứng bệnh thần kinh đặc biệt hiếm gặp, một dạng bệnh đánh lừa cảm xúc mà người mắc có cảm tưởng như họ đã chết, không tồn tại, cơ thể bị thối rữa hay cơ thể không có máu hoặc bị mất cơ quan nội tạng trong cơ thể. 
Không những thế, những người mắc bệnh luôn phủ nhận sự tồn tại của chính mình cũng như phủ nhận sự hiện hữu của Chúa trời, quỷ dữ... Cuối cùng họ tìm đến cái chết theo lẽ tự nhiên. Sự rối loạn này có xu hướng xảy ra liên tục và là một dạng của rối loạn tâm lý, tâm thần phân liệt.
3. Hội chứng Moebius
Hội chứng Moebius được nhà thần kinh học Paul Julius Mobius phát hiện và mô tả vào năm 1888. Nó là một dạng rối loạn thần kinh hiếm gặp xuất hiện từ lúc sinh. Những người bị mắc hội chứng này sinh ra với khuôn mặt hoàn toàn tê liệt, không thể cười, nhăn mặt, nhấp nháy mắt, thậm chí không thể đảo mắt từ bên này sang bên kia. 
Một nghiên cứu đã chỉ ra, hội chứng Mobius là do các dây thần kinh sọ, dây thần kinh mặt bị tổn thương. Đặc biệt, dây thần kinh sọ VI (kiểm soát chuyển động mắt bên) và VII (kiểm soát biểu hiện nét mặt) kém phát triển khiến cho người bệnh không thể đảo mắt hay nhăn mặt... Bên cạnh đó, môi trên có hiện tượng bị rút lại do sự co rút cơ ở mặt. Thỉnh thoảng, các dây thần kinh sọ V và VIII cũng bị ảnh hưởng. Nếu là dây thần kinh sọ VIII, người bệnh có thể bị mất thính giác.
Một nguyên nhân khác của hội chứng này cũng được đề cập đến là sự gián đoạn mạch máu ở não, thiếu máu cục bộ hoặc không đủ lượng oxy cần thiết cung cấp cho não khi bào thai đang phát triển. Do gặp rất nhiều khó khăn trong việc giao tiếp qua biểu hiện trên khuôn mặt và mỉm cười nên khoảng 30% trẻ em bị hội chứng Moebius đều mắc bệnh tự kỷ.
4. Hội chứng mùi cá
Được mô tả lần đầu tiên vào năm 1970, hội chứng mùi cá (hay còn gọi Trimethylaminuria) là sự rối loạn trao đổi chất hiếm gặp, gây ra sự khiếm khuyết trong việc sản sinh các enzyme flavin có chứa monooxygenase 3 (FMO3). Bình thường, khi ta ăn thực phẩm có nhiều chất choline (cá, gan động vật, trứng), một loại protein có tên trimethylamine (TMA) sẽ được hình thành tại ruột dưới tác dụng của một số vi khuẩn. Sau đó, chất này được một enzyme trong cơ thể chứa FMO3 chuyển hóa. Khi FMO3 hoạt động không đúng hoặc số lượng enzym này sản sinh ra không đủ sẽ khiến TMA không được chuyển hóa, tích tụ lại và toát ra khỏi cơ thể (qua hơi thở, mồ hôi, nước tiểu). Tùy theo nồng độ TMA trong máu mà người bệnh có các mức độ hôi khác nhau.
Khi bị triệu chứng này, cơ thể của người bệnh sẽ có mùi như mùi cá, nước tiểu, mồ hôi và hơi thở rất nặng và tanh.
Tình trạng này phổ biến ở phụ nữ hơn nam giới. Nhiều nhà khoa học nghi ngờ rằng, các hormone giới tính nữ, chẳng hạn như progesterone hoặc estrogen càng làm trầm trọng thêm triệu chứng mùi cá này.
5. Hội chứng nổ đầu
Hội chứng nổ đầu là một dạng rối loạn giấc ngủ, khiến người bệnh nghe thấy một tiếng nổ lớn trong đầu mình. 
"Tiếng nổ" thường xảy ra ngay sau khi người mắc bệnh ngủ và nghe như một tiếng gầm, tiếng súng, tiếng la hét, tiếng chuông hay chập điện.
Mặc dù người mắc triệu chứng này không bị thương về thể chất, nhưng họ phải trải qua cảm giác sợ hãi và lo lắng như bị tấn công. Hiện các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân, cách chữa trị triệu chứng này, mặc dù nó có liên hệ với sự căng thẳng và thường biến mất mà không cần điều trị.
6. Hội chứng Phonagnosia
Được mô tả lần đầu tiên bởi nhà nghiên cứu của Van Lancker và Cantor vào năm 1982, phonagnosia là một rối loạn rất hiếm gặp, liên quan đến sự xáo trộn trong việc nhận ra người khác thông qua tiếng nói của họ. 
Những người bị rối loạn này có thể tham gia vào các cuộc trò chuyện mặt đối mặt, nhưng họ gặp khó khăn trong giao tiếp qua điện thoại. Lý do là bởi người bệnh không thể xác định được người mà họ đang nói chuyện, ngay cả khi đó là người họ biết. 
Hầu hết các trường hợp mắc phonagnosia được ghi nhận là những người bị tổn thương não sau một chấn thương não hoặc đột quỵ.
Theo MASK

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Béo phì và chứng phình động mạch chủ ở bụng

Béo phì và chứng phình động mạch chủ ở bụng


(TNO) Khi tăng cân, số đo vùng bụng tăng thì nguy cơ mắc chứng phình động mạch chủ vùng bụng cũng tăng cao, theo Daily Mail.

Động mạch chủ ở bụng đưa máu từ tim qua vùng bụng đến các bộ phận khác của cơ thể.
Khi tăng cân, động mạch ở bụng cũng bị phình lên mà bệnh nhân không hề hay biết. Cho đến một lúc nào đó, động mạch “nổ tung” và gây nên tình trạng chảy máu bên trong có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Có người bị đau và sưng tấy ở lưng. Nhưng rất nhiều người không hề có triệu chứng gì.
Béo phì và chứng phình động mạch chủ ở bụng
Thừa cân có thể dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm - Ảnh: Shutterstock
Những nhà khoa học từ Viện Karolinksi ở Stockholm (Thụy Điển) quyết định tìm hiểu mối liên hệ giữa số đo vùng bụng và nguy cơ mắc chứng phình động mạch chủ vùng bụng.
Đối tượng nghiên cứu là 63.000 người nam và nữ, từ 46 đến 84 tuổi, được đo vòng bụng nhiều lần trong vòng 10 năm.
Họ phát hiện có gần 600 đối tượng bị phình động mạch chủ ở vùng bụng, 80% trong số đó là nam giới.
Cứ mỗi lần số đo vùng bụng tăng lên 5 cm thì nguy cơ bị phình động mạch chủ vùng bụng tăng lên 15%.
Những người nam có số đo vùng bụng là 99 cm và người nữ có số đo vùng bụng là 86 cm thì có nguy cơ bị phình động mạch chủ tăng lên 30%.
Nhóm nghiên cứu cho rằng loại mỡ tập trung quanh bụng có thể chứa những hợp chất có hại, làm hư hại động mạch, dẫn đến tình trạng sưng, viêm.
Nghiên cứu được công bố trên British Journal of Surgery.
Đức Trí

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Nam giới cũng bị ung thư vú

Nam giới cũng bị ung thư vú

 

Nam giới cũng bị ung thư vú

Lâu nay khi nói đến ung thư vú nhiều người thường nghĩ rằng đó là bệnh chỉ có ở phụ nữ, do đó không tin đấng mày râu lại có thể mắc bệnh này. Thế nhưng một báo cáo gần đây cho thấy tỉ lệ ung thư vú ở nam giới đã tăng 26% trong 25 năm qua và ngày càng có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam cũng đã có nhiều người mắc.

Tổn thương xâm lấn da giai đoạn 4 (ảnh trái) và tổn thương co rút núm vú giai đoạn 3
 Ung thư vú ở nam giới đôi khi có thể nhầm lẫn với một số bệnh của tuyến vú như nữ hóa tuyến vú, ápxe vú, tổn thương di căn đến vú và những bướu nguyên phát khác không phải ung thư vú.
Ung thư vú ở nam giới hiếm gặp hơn ở nữ giới, thường ở độ tuổi 50-60, trễ hơn 10 năm so với phụ nữ nhưng lại nguy hiểm hơn. Bởi tuyến vú của nam không phát triển nên tốc độ tế bào ung thư xâm lấn vào gan, phổi, xương diễn ra rất nhanh.
Thật ra bệnh ung thư vú ở nam giới rất dễ phát hiện ở giai đoạn sớm. Triệu chứng điển hình của bệnh là có một cục cứng ở dưới quầng vú, đôi khi nằm ở 1/4 trên ngoài của vú, khi sờ vào có cảm giác rất đau. Tuy nhiên, với quan niệm cho rằng nam giới không bao giờ bị bệnh ung thư vú, thường không được quan tâm đến những bất thường ở vú nên hầu như nam giới không thực hiện việc tầm soát vú trong các cuộc kiểm tra định kỳ. Đến khi xảy ra các triệu chứng như co rút đầu núm vú, loét da vùng vú, xâm lấn da hay dính vào thành ngực, kèm theo hạch nách... thì bệnh đã chuyển sang giai đoạn trễ.
Điều trị ung thư vú ở nam giới trong giai đoạn sớm cũng giống như những nguyên tắc của ung thư vú ở phụ nữ. Bao gồm các phương pháp sau:
1- Phẫu thuật: Là phương thức điều trị khi bướu còn nhỏ, còn khu trú tại chỗ với thủ thuật là đoạn nhũ tận gốc, không tái tạo hay bảo tồn vú. Đây là điểm khác biệt hoàn toàn với ung thư vú trong giai đoạn sớm ở phụ nữ, do nam giới rất ít mô tuyến vú và bướu thường nằm ở vị trí trung tâm.
2- Xạ trị: Đối với ung thư vú ở phụ nữ đã có di căn hạch, xạ trị sau mổ vào thành ngực mang lại lợi ích sống còn. Trên thực tế, xạ trị rất cần thiết cho bệnh nhân nam vì tần suất bị xâm lấn núm vú và da trên vú ở nam giới rất cao, đặc biệt là những bệnh nhân nam có trên bốn hạch nách di căn, hay bướu đã tiến xa tại chỗ.
3- Hóa trị: Trong ung thư vú ở phụ nữ có rất nhiều dữ liệu thống kê cho thấy ích lợi và cải thiện về kết quả điều trị. Ngược lại, ung thư vú ở nam giới thì các thử nghiệm lâm sàng lại quá ít. Tuy nhiên, hóa trị được khuyến cáo nên áp dụng cho tất cả bệnh nhân có hạch nách bị di căn, bất chấp kích thước bướu là bao nhiêu. Xạ trị hay hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật có thể kéo dài 1-9 tháng tùy mức độ xâm lấn của bệnh. Thuốc nội tiết tố cũng đạt kết quả tốt trong một số trường hợp.
Ung thư vú ở nam giới diễn tiến rầm rộ và có tiên lượng xấu hơn nhiều so với ung thư vú ở phụ nữ. Độ tuổi mắc bệnh, giai đoạn bệnh tại thời điểm chẩn đoán và tình trạng di căn hạch bạch huyết là những yếu tố tiên lượng quan trọng.
Phần lớn ung thư vú ở nam giới không có yếu tố nguy cơ rõ ràng. Một vài trường hợp liên quan đến nội tiết tố, có tiền sử bệnh lý ở tinh hoàn, tiền sử gia đình có người bị ung thư vú, đã được xạ trị vào vùng ngực trước đó hay do những tai nạn của chất phóng xạ. Ngoài ra, những người hút thuốc, béo phì, đái tháo đường, lạm dụng rượu bia... cũng có nguy cơ mắc bệnh cao. Một lối sống khoa học cùng với việc khám sức khỏe định kỳ tầm soát ung thư vú ở nam giới là chìa khóa giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
Theo Bác sĩ Hồ Văn Cưng/Tuổi Trẻ

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Thực phẩm giúp tăng miễn dịch

Thực phẩm giúp tăng miễn dịch

Một chế độ ăn uống với thực phẩm đa dạng như thịt nạc, ngũ cốc và các sản phẩm từ sữa ít chất béo cùng với giấc ngủ đầy đủ, tập thể dục đều đặn sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch, cũng như giúp bạn mau hồi phục nếu chẳng may bị cảm lạnh hoặc cúm.

Một số lời khuyên sau từ các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ được đăng trên trang tin healthmeup.com có thể giúp bạn chọn vài loại thực phẩm để tăng hệ miễn dịch:
Cà rốt: giàu vitamin A, cà rốt giúp chống cảm lạnh và cúm, đồng thời bảo vệ bạn khỏi mắc các bệnh nhiễm trùng.
Trà xanh và trà hoa cúc: trà xanh giàu chất chống ô xy hóa và có đặc tính kháng vi rút và kháng khuẩn mạnh. Uống vài tách trà xanh mỗi ngày sẽ giữ cho hệ miễn dịch vững chắc. Trà hoa cúc cũng chứa nhiều chất chống ô xy hóa giúp chống cảm lạnh và cúm trong mùa đông.
 
Tỏi - Ảnh: Thái Nguyên

 
Nấm - Ảnh: Hạ Huy

Nấm: loại thực phẩm này được cho thúc đẩy khả năng miễn dịch, chống lại các vi rút gây cảm lạnh. Nấm trắng có hàm lượng đáng kể các tế bào “sát thủ tự nhiên” - một thành phần quan trọng của hệ miễn dịch.
Tỏi: lâu nay được xem là liệu pháp chữa sốt và cảm lạnh đơn giản nhất. Y học phương Tây đã đưa ra giả thuyết rằng, tỏi có khả năng làm tăng lượng enzyme giúp gan giải độc cho máu, củng cố hệ miễn dịch. Ăn tỏi sống đem lại công dụng tốt nhất, nhưng nếu bạn không thể quen với tỏi sống thì có thể ăn tỏi đã được nấu chín.
Mật ong: được cho là cách an toàn và dễ dàng nhất để chữa cảm lạnh và sốt trong mùa đông. Mật ong có đặc tính kháng khuẩn giúp chống vi khuẩn. Bạn có thể ăn một chút mật ong mỗi tối trước khi đi ngủ, hoặc hòa một ít mật ong vào ly sữa ấm.
Nhất Linh


Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...